ĐÔI ĐIỀU TRAO ĐỔI VỀ CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018 TỪ BỘ SÁCH “KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG”

Lượt xem:

Đọc bài viết

Đã sắp tròn 2 năm kể từ khi cầm trên tay những cuốn sách trong bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” của chương trình GDPT 2018. Một khoảng thời gian không ngắn và cũng chưa đủ dài về chương trình mới mà chúng ta đang thực hiện  nhưng vẫn có đôi lời xin được trao đổi.

1. Về chương trình và sách giáo khoa

Nội dung chương trình mới đã được biên soạn theo Chương trình tổng thể và khung Chương trình giáo dục phổ thông Môn Ngữ văn.

– Sau đây là bảng hệ thống các văn bản được học ở 3 lớp 10, 11, 12:

HỆ THỐNG VĂN BẢN NGỮ VĂN  BỘ SÁCH  KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

LỚP 10

LỚP 11

LỚP 12 (dự thảo)

Bài 1. Sức hấp dẫn của truyện kể

Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới (Thần thoại Việt Nam)

Tản Viên từ phán sự lục (Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên) – Nguyễn Dữ

Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân

Bài 1. Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể

Vợ nhặt – Kim Lân

 Chí Phèo – Nam Cao

 Cải ơi Nguyễn Ngọc Tư

Bài 1. Khả năng lớn lao của tiểu thuyết

– Xuân Tóc Đỏ cứu quốc- Vũ Trọng Phụng

– Nỗi buồn chiến tranh  – Bảo Ninh

Bài 2. Vẻ đẹp của thơ ca

Chùm thơ Hai- cư  Nhật Bản

Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) – Đỗ Phủ

Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử

Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư

Bài 2. Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình

Nhớ đồng (Tố Hữu); Tràng giang (Huy Cận) Con đường mùa đông (Puskin); Thời gian (Văn Cao)

Bài 2. Những thế giới thơ

– Cảm hoài – Đặng Dung

– Tây Tiến

– Đàn ghi ta

– Bài thơ số 28 (Ta go) – đọc thêm

Bài 3. Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận

Đọc: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia

(Trích – Thân Nhân Trung)

Đọc: Yêu và đồng cảm (Trích – Phong Tử Khải

Đọc: Chữ bầu lên nhà thơ (Trích – Lê Đạt)

Bài 3. Cấu trúc của văn bản nghị luận

Cầu hiền chiếu (Ngô Thì Nhậm); Tôi có một ước mơ (trích “Bước đến tự do) Mác tin Lu thơ Kinh; Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh

Bài 3. Lập luận trong văn bản nghị luận

– Nhìn về vốn văn hoá dân tộc

– Năng lực sáng tạo

– Mấy ý nghĩ về thơ

Bài  4. Sức sống của sử thi

VB 1: Héc – to từ biệt Ăng – đrô – mác (Trích I-li-át) – Hô-me-rơ

VB 2: Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời (Trích Đăm Săn) – Sử thi Ê-đê

– Thực hành đọc:  Ra-ma buộc tội (Trích Ra-ma-ya-na) – Van-mi-ki

Bài 4. Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình

Lời tiễn dặn; Dương phụ hành (Cao Bá Quát); Thuyền và biển (Xuân Quỳnh); Nàng Ờm nhắn nhủ (Trích Nàng Ờm, chàng Bồng Hương- truyện thơ dân tộc Mường)

Bài 4. Yếu tố kì ảo trong truyện kể

– Đền thiêng cửa bể – Đoàn Thị Điểm

– Muối của rừng – Nguyễn Huy Thiệp

– Bến trần gian – Lưu Sơn Minh – (đọc thêm)

Bài 5. Tích trò sân khấu dân gian

  • Xúy Vân giả dại (Trích chèo Kim Nham) 
  • Huyện đường (Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
  • Múa rối nước – hiện dại soi bóng tiền nhân (Phạm Thùy Dung) 

Hồn thiêng đưa đường (Trích tuồng Sơn Hậu) 

Bài 5. Nhân vật và xung đột trong bi kịch Sống hay không sống đó là vấn đề (Sêch xpia);

Vĩnh bit Cửu Trùng Đài – Nguyễn Huy Tưởng

P rô mê tê bị xiềng (Ét sin)

Bài 5. Tiếng cười của hài kịch

– Nhân vật quan trọng – Gô gôn

– Giấu của – Lộng Chương

 

 

Bài 6. Nguyễn Trãi “Dành còn để trợ dân này”

VB 1: Tác gia Nguyễn Trãi

VB 2: Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi)

VB 3: Bảo kính cảnh giới, bài 43 (Gương báu răn mình – Nguyễn Trãi)

VB4: Dục Thúy Sơn (Núi Dục Thúy – Nguyễn Trãi)

Thực hành đọc:

– Ngôn chí, Bài 3 (Nguyễn Trãi)

– Bạch Đằng hải khẩu (Cửa biển Bạch Đằng – Nguyễn Trãi)

Bài 6. Nguyễn Du – “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Tác gia Nguyễn Du; Trao duyên; Đọc Tiểu Thanh kí; Chí khí anh hùng; Mộng đắc thái liên

 

Bài 6. Hồ Chí Minh “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân  đi”

– Tuyên ngôn Độc lập

– Mộ

– Nguyên tiêu

– Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu

– Vọng nguyệt, Cảnh khuya (Đọc thêm)

 

Bài 7. Quyền năng của người kể chuyện

VB 1: Người cầm quyền khôi phục uy quyền  (Trích Những người khốn khổ, Vích-to Huy gô)

VB 2: Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam)

VB 3: Một chuyện đùa nho nhỏ (An-tôn Sê-khốp)

– Thực hành đọc: Con khướu sổ lồng (Trích- Nguyễn Quang Sáng)

Bài 7.  Ghi chép và tưởng tượng trong kí

Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Và tôi vẫn muốn mẹ (Trích Những nhân chứng cuối cùng – Solo giọng trẻ em – Xvetlana Alechxievich); Cà mau quê xứ (Trích Uống cà phê trên đường của Vũ – Trần Tuấn); Cây diêm cuối cùng (Trích Chuyện trò – Cao Huy Thuần);

 

Bài 7.  Sự thật trong tác phẩm kí

– Nghệ thuật băm thịt gà – Ngô Tất Tố

– Bước vào đời – Đào Duy Anh

 

 

 

Bài 8. Thế giới đa dạng của thông tin

Sự sống và cái chết (Trích Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao – Trịnh Xuân Thuận)

– Nghệ thuật truyền thống của người Việt (Trích Văn minh Việt Nam – Nguyễn Văn Huyên

– Phục hồi tầng ozone: Thành công hiếm hoi của nỗ lực toàn cầu (Lê My)

Bài 8. Cấu trúc của văn bản thông tin

Nữ phóng viên đầu tiên (Trần Nhật Vy); Trí thông minh nhân tạo (Trích 50 ý tưởng về tương lai – Ri sát Oát xơn)

Pa-ra-lim-pích: Một lịch sử chữa lành những vết thương (Huy Đăng); Ca nhạc ở miệt vườn (Trích Văn minh Miệt Vườn – Sơn Nam)

Bài 8. Dữ liệu văn bản thông tin

– Parana – Trích Nhiệt đới buồn – Cờ lốt Lêvi Xtơ rốt

– Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục – Nguyễn Nam

– Đời muối – Trích Lịch sử thế giới – Mác Kơlenxki

 

Bài 9. Hành trang cuộc sống

– Về chính chúng ta – Các lô Rô ve li

– Con đường không chọn – Rô bớt Phờ rớt

Một đời như kẻ tìm đường – Phan văn Trường

Bài 9: Lựa chọn và hành động

Bài ca ngất ngưởng; Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc; Cộng đồng và cá thể (Trích Thế giới như tôi thấy)- An be Anh xtanh; Làm việc gì cũng là “ làm người” (Trích Đúng việc – Một góc nhìn cau chuyện khai minh) – Giản Tư Trung

Bài 9: Văn học và cuộc đời

– Vội vàng – Xuân Diệu

– Trở về (Ông già và biển cả) – Hê minh uê

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ

Khúc đồng quê (ĐT) – Đặng Thị Hạnh

 

Nhận xét: Sách giáo khoa bộ Kết nối tri thức với cuộc sống đã được biên soạn theo một hệ thống. Ở cả 3 khối lớp học, về cơ bản có sự lặp lại và phát triển một số thể loại chính.

Một vài ví dụ cụ thể như:

+ Bài 1 các lớp: Tập trung đến văn bản Tự sự như truyện thần thoại, truyện trung đại, hiện đại, tiểu thuyết.

+Bài 2 các lớp: Hướng tới các văn bản Thơ

+ Bài 6: Lựa chọn tìm hiểu về các Tác gia lớn của nền văn học dân tộc. Cụ thể là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh

Về cơ bản, các bài học được sắp xếp có sự thống nhất, phát triển và hướng đến sự phát triển năng lực, tư duy người học.

2. Về người dạy và người học

– Người dạy: Khi tiếp nhận chương trình GDPT 2018, người dạy đã rất cố gắng tiếp nhận, sử dụng, phát huy các kĩ thuật, phương pháp dạy học hiện đại, cố gắng nhìn nhận những nét bao quát nhất của chương trình, hướng tiếp cận tác phẩm theo đặc trưng thể loại…

– Người học: Các em đã rất tích cực làm việc với các văn bản trong sách giáo khoa, tích cực tra cứu, tìm các tư liệu có mức độ đòi hỏi cần giải quyết tương đương với các văn bản trong sách để tìm hiểu…

3. Đôi điều trăn trở

Có thể nói, cả thầy và trò đã rất nỗ lực trong việc tiếp cận, tìm hiểu các văn bản trong chương trình 2018. Nhưng tại sao hiệu quả của việc học, việc dạy chưa cao, hoặc chưa ổn định?

Có thể là vì một vài nguyên nhân sau:

+ Chương trình được sắp xếp hệ thống. Nhưng đó là trong một bộ sách. Người dạy và người học không thể nắm vững được hệ thống văn bản của cả 3 bộ sách trong chương trình hiện hành. Các bộ sách cũng có những tri thức chưa hoàn toàn thống nhất khi tiếp cận tìm hiểu văn bản hay thể loại.

+ Các văn bản được học và các văn bản được kiểm tra, thi cử không thống nhất. Điều đó đạt tới mục tiêu phát huy năng lực của học sinh.

Nhưng cái khó của người học và người dạy là: Liệu có một phạm vi nào đó cho việc lựa chọn văn bản cho mỗi khối lớp hay không?

Kho văn học Việt Nam và nhân loại thật phong phú. Chúng ta ngưỡng mộ tác phẩm của văn học quá khứ, hiện đại cũng như đương đại. Nhưng giữa một đại ngàn tác phẩm văn chương, mà văn chương lại là lĩnh vực của cái độc đáo, luôn có sự sáng tạo, luôn có sự đổi mới ở các thể loại và trong chính một thể loại, liệu có thể tìm được một hằng số?

Đến bây giờ là năm thứ 2 thực hiện chương trình mới 2018, lớp 10  đã xong và lớp 11 sắp xong. Liệu đề thi lớp 10 và lớp 11 có thể có những định hướng trong văn bản, trong dạng câu hỏi để giáo viên và học sinh chủ động, tích cực phát huy được năng lực của mình? Liệu có cách nào giúp cho môn Ngữ văn không bị cho là môn may rủi, chông chênh? Liệu có cách nào để những giờ miệt mài của thầy và trò sẽ không rơi vào hụt hẫng?

            Đôi điều chia sẻ. Rất mong nhận được sự quan tâm!

Hải Hậu, ngày nghỉ lễ 30/4/2024

Nguyễn Thị Dịu – GV Ngữ văn THPT A Hải Hậu