Xây dựng ma trận, bản đặc tả, cách thức viết câu hỏi trắc nghiệm và tự luận trong kiểm tra, đánh giá môn Công nghệ THPT

Lượt xem:

Đọc bài viết

XÂY DỰNG MA TRẬN, BẢN ĐẶC TẢ, CÁCH THỨC VIẾT CÂU HỎI 

TRẮC NGHIỆM VÀ TỰ LUẬN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN CÔNG NGHỆ

1. Điểm cần lưu ý sau 01 năm thực hiện Thông tư số 26 đối với giáo viên giảng dạy môn Công nghệ

* Các loại kiểm tra đánh giá

– Kiểm tra, đánh giá thường xuyên: được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập. Số lần kiểm tra, đánh giá thường xuyên không giới hạn bởi số điểm kiểm tra, đánh giá thường xuyên.

– Kiểm tra, đánh giá định kì: gồm kiểm tra, đánh giá giữa kì và kiểm tra, đánh giá cuối kì, được thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), bài thực hành, dự án học tập.

 + Bài kiểm tra, đánh giá định kì trên giấy hoặc trên máy tính thì có ma trận, bản đặc tả của đề. Thời gian làm bài từ 45 phút đến 90 phút

+ Đối với bài thực hành, dự án học tập phải có hướng dẫn và tiêu chí đánh giá trước khi thực hiện.

* Số điểm kiểm tra, đánh giá và cách cho điểm

– Kiểm tra, đánh giá thường xuyên:

+ Môn học có từ 35 tiết trở xuống/năm học: 2 ĐĐGtx; (VD: Công nghệ 12)

+ Môn học có từ trên 35 đến 70 tiết/năm học: 3 ĐĐGtx; (VD: Công nghệ 11).

– Kiểm tra, đánh giá định kì: mỗi môn trong mỗi kì có 01 ĐĐGgk và 01 ĐĐGck;

* Điểm trung bình môn học kì:

ĐTBmhk =

TĐĐGtx + 2 x ĐĐGgk + 3 x ĐĐGck

Số ĐĐGtx + 5

* Đánh giá xếp loại học sinh

– Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập của học sinh trong quá trình học tập.

– Tăng cường khen thưởng toàn diện hoặc theo lĩnh vực nhằm khích lệ, động viên học sinh học tập và rèn luyện. Ngoài danh hiệu học sinh giỏi, học sinh tiên tiến như hiện hành, còn có thêm danh hiệu học sinh đạt thành tích nổi bật hoặc có tiến bộ vượt bậc trong học tập, rèn luyện.

– Điều kiện để được công nhận học sinh giỏi cũng mở rộng khi đưa môn Ngoại ngữ vào vị trí tương xứng với môn Toán, Ngữ văn

2. Quy trình xây dựng ma trận

– Ma trận đề kiểm tra là bản thiết kế đề kiểm tra chứa đựng những thông tin về cấu trúc cơ bản của đề kiểm tra như: thời lượng, số câu hỏi, dạng thức câu hỏi; lĩnh vực kiến thức, cấp độ năng lực của từng câu hỏi, thuộc tính các câu hỏi ở từng vị trí… Ma trận đề kiểm tra cho phép tạo ra nhiều đề kiểm tra có chất lượng tương đương.

Bước 1. Liệt kê nội dung kiến thức và các đơn vị kiến thức cụ thể cần kiểm tra.

– Nội dung kiến thức: Tên các chủ đề thuộc nội dung kiến thức cần kiểm tra. Một chủ đề có thể gồm 1 bài hoặc nhiều bài.

– Đơn vị kiến thức: Các nội dung nhỏ tương ứng với các chủ đề đó.

Ví dụ 1: Nội dung kiến thức là Tiêu chuẩn trình bà bản vẽ kỹ thuật.

Đơn vị kiến thức tương tứng: Khổ giấy, tỉ lệ. nét vẽ, chữ viết

Ví dụ 2: Nội dung kiến thức là Phương pháp biểu diễn vật thể trên bản vẽ kĩ thuật.

Đơn vị kiến thức tương tứng: Hình chiếu vuông góc và mặt cắt – hình cắt.

Bước 2: Quyết định phân phối % tổng điểm và tỉ lệ % về điểm. Từ đó tính tổng số câu hỏi tương ứng với từng mức độ nhận thức.

Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi nội dung kiểm tra:

Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra, căn cứ vào mức độ quan trọng của mỗi nội dung, trong chương trình và thời lượng quy định trong KHDH để phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho từng chủ đề.

Ở bước này cần lưu ý tỉ lệ phần trăm về điểm ứng với các mức độ nhận thức, thường là tỉ lệ: 4:3:2:1

Bước 3. Xác định số câu hỏi tương ứng với từng đơn vị kiến thức và mức độ nhận thức.

Dựa vào tổng số câu hỏi với từng mức độ nhận thức và tổng điểm với từng nội dung kiến thức, xác định số câu hỏi ương ứng với từng đơn vị kiến thức.

Riêng câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao ra ở dạng Tự luận, và số câu hỏi là mấy câu phụ thuộc vào GV, sao cho vẫn đảm bảo số điểm tương ứng của vận dụng là 2 điểm, vận dụng cao là 1 điểm.

Bước 4. Xác định thời gian tương ứng cho từng câu hỏi

Xác định thời gian tương ứng cho từng câu hỏi và tính tổng số câu hỏi và thời gian theo cột đảm bảo tổng thời gian là 45 phút.

Mỗi câu TNNB thường cần tg 0,75 phút; Mỗi câu TNTH cần 1,25 phút

Bước 5. Tính tổng số câu hỏi và thời gian theo cột. Đánh giá và điều chỉnh lại ma trận (nếu cần).

Lưu ý: Các câu hỏi ở mức độ nhận biết và thông hiểu là các câu hỏi trắc nghiệm khách quan. 0,25đ/ 1 câu trắc nghiệm.

Các câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao là các câu hỏi tự luận.

Không được chọn câu hỏi bài tập ở mức độ vận dụng và vận dụng cao trong cùng một đơn vị kiến thức.

2.3. Quy trình xây dựng bảng đặc tả

Bảng đặc tả đề kiểm tra giúp xây dựng đề KTĐG đúng những mục tiêu dạy học dự định được đánh giá, giúp đảm bảo sự đồng nhất giữa các đề kiểm tra dùng để phục vụ cùng một mục đích đánh giá

Bản đặc tả đề kiểm tra cung cấp thông tin về cấu trúc đề kiểm tra, hình thức câu hỏi, số lượng câu hỏi ở mỗi loại, và phân bố câu hỏi trên mỗi mục tiêu đánh giá.

Từ bảng ma trận đã thực hiện trước đó, ta có quy trình xây dựng bảng đặc tả như sau:

Bước 1: Xác định nội dung kiến thức, đơn vị kiến thức và số câu hỏi theo mức độ nhận thức (theo bảng ma trận)

Bước 2: Xác định mức độ kiến thức, kĩ năng của kiểm tra đánh giá

Lưu ý: Các câu hỏi ở mức độ nhận biết và thông hiểu là các câu hỏi trắc nghiệm khách quan. 0,25đ/1 câu trắc nghiệm.

Các câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao là các câu hỏi tự luận.

Không được chọn câu hỏi bài tập ở mức độ vận dụng và vận dụng cao trong cùng một đơn vị kiến thức.

Khi xác định các mức độ kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra đánh giá cần sử dụng các động từ mô tả tương ứng với các mức độ nhận thức đó.

Mức độ

Động từ mô tả mức độ

Biết

Kể tên, liệt kê, trình bày, nhận biết, nhận ra, phát hiện, tìm kiếm, nêu, mô tả, ghi nhớ.

Hiểu

Phân biệt, tính toán, vẽ, so sánh, phân tích, giải thích, đọc, tóm tắt, trao đổi, làm rõ, đánh giá, biểu diễn, thao tác, bảo quản, sử dụng, khắc phục, liên hệ, nhận định, lựa chọn, nhận thức, xác định.

Vận dụng

Khai thác, tạo lập, vận hành, xác định thông số, chăm sóc, bảo dưỡng, đề xuất, thử nghiệm, điều chỉnh, lập kế hoạch, chế tạo, kiểm tra, thử nghiệm, hoàn thiện, thiết kế, phác thảo, thực hiện, lắp ráp.

2.4. Cách thức viết câu hỏi trắc nghiệm và tự luận

Trong đề kiểm tra đánh giá giữa kỳ và đánh giá cuối kỳ thường lựa chọn câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn và câu hỏi trắc nghiệm tự luận diễn giải.

* Cách thức viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) nhiều lựa chọn

Cấu trúc câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn:

Phần 1: câu phát biểu căn bản, gọi là câu dẫn (PROMPT), hay câu hỏi (STEM).

Câu dẫn có chức năng chính như sau:

+ Đặt câu hỏi;

+ Đưa ra yêu cầu cho HS thực hiện;    

+ Đặt ra tình huống/ hay vấn đề cho HS giải quyết.

Phần 2: các phương án để thí sinh lựa chọn

Có 2 loại phương án để lựa chọn:

+ Phương án đúng, phương án tốt nhất: Thể hiện sự hiểu biết của học sinh và sự lựa chọn chính xác hoặc tốt nhất cho câu hỏi hay vấn đề mà câu hỏi yêu cầu.

+ Phương án nhiễu – Chức năng chính: Là câu trả lời hợp lý (nhưng không chính xác) đối với câu hỏi hoặc vấn đề được nêu ra trong câu dẫn.

Một số nguyên tắc khi biên soạn câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn

 – Phần dẫn cần bao gồm một câu hoặc một số câu truyền đạt một ý hoàn chỉnh, để người học đọc hết phần dẫn đã có thể nắm được sơ bộ câu hỏi đang kiểm tra vấn đề gì; đồng thời các phương án lựa chọn cần ngắn gọn.

– Mỗi câu hỏi nên thiết kế có 4 đến 5 phương án lựa chọn

– Câu hỏi cũng như các phương án lựa chọn cần không có dấu hiệu kích thích thí sinh đoán mò đáp án kiểu:

+ Phương án đúng được diễn đạt dài hơn những phương án còn lại;

+ Phương án đúng được mô tả chi tiết và đầy đủ, khiến cho người ta dễ dàng nhận ra nhờ tính chính xác của phương án;

+ Nếu một phương án lựa chọn chứa từ khóa được nhắc lại từ phần dẫn thì nhiều khả năng đó là phương án đúng;

+ Nếu câu hỏi có phương án cuối cùng kiểu “tất cả các phương án trên đều đúng/sai” thì có thể đáp án sẽ rơi vào phương án này;

+ Việc sử dụng ngôn từ ngây ngô, dễ dãi, không phù hợp văn cảnh có thể là dấu hiệu của phương án nhiễu;

– Phương án nhiễu không nên “sai” một cách quá lộ liễu mà cần có sự liên hệ logic nhất định tới chủ đề và được diễn đạt sao cho có vẻ đúng (có vẻ hợp lý).

– Cần rất thận trọng khi sử dụng câu có phương án lựa chọn kiểu “tất cả các phương án trên đều đúng/sai”.

– Các phương án lựa chọn nên đồng nhất với nhau, có thể về ý nghĩa, âm thanh từ vựng, độ dài, thứ nguyên, loại từ (danh từ, động từ, tính từ…)…

– Phải chắc chắn có một phương án là đúng.

* Cách thức viết câu hỏi trắc nghiệm tự luận

Câu hỏi tự luận thường dùng để đo lường đánh giá kiến thức (VD: kiến thức về một môn học) trong quá trình học hay khi kết thúc môn học đó ở các mức vận dụng thấp, vận dụng cao.

Các dạng câu trắc nghiệm tự luận:

– Câu tự luận có cấu trúc: phù hợp để đánh giá các bậc nhận thức như nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, và khả năng tổ chức, sắp xếp thông tin…( thường được dùng để kiểm tra kiến thức ở mức độ vận dụng thấp).

– Câu tự luận mở: phù hợp để đánh giá các bậc nhận thức hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá; các vấn đề mang tính tích hợp, toàn cầu; cách thức tổ chức, sắp xếp thông tin; khả năng thuyết phục…( thường được dùng để kiểm tra kiến thức ở mức độ vận dụng cao).

Một số nguyên tắc khi viết câu trắc nghiệm tự luận:

– Chỉ nên sử dụng câu tự luận để đánh giá những mục tiêu dạy học mà nếu đánh giá bằng câu trắc nghiệm khách quan thì sẽ có nhiều hạn chế.

– Đặt câu hỏi phải đảm bảo thể hiện năng lực như mục tiêu dạy học đã đặt ra.

– Yêu cầu của câu hỏi cần rõ ràng và ngắn gọn. Sử dụng những từ chỉ hành động cụ thể như miêu tả, giải thích, so sánh, nêu ưu điểm và nhược điểm

– Với câu trắc nghiệm tự luận, không nên cho phép thí sinh lựa chọn câu hỏi giữa các câu hỏi tương đương nhau.

– Câu hỏi trắc nghiệm tự luận theo đặc thù môn học nên đưa nội dung kiến thức hướng tới giải quyết bài toán thực tế hay thực tiễn địa phương.


Tập tin đính kèm

Nguồn:Tổ Vật lý – Công nghệ Copy link